GIỚI THIỆU VỀ TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC VIỆN TRỢ PCPNN

I. VÀI NÉT VỀ CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ

1. Tổ chức phi chính phủ (Non-Governmental Organization, gọi tắt là NGO) đã tồn tại hàng trăm năm trên thế giới dưới nhiều dạng khác nhau. Nguồn gốc xa xưa của NGOs vốn là những nhóm nhỏ làm từ thiện. Tiêu chí hoạt động của các tổ chức này là cứu trợ nhân đạo đối với nạn nhân chiến tranh, thiên tai và nghèo đói, không phân biệt chính kiến và địa dư. Cho tới nay trên thế giới, các nước có quan điểm khác nhau về phân loại và định nghĩa về NGOs.

* Các tổ chức phi chính phủ, viết tắt tiếng Anh là NGOs (Non governmental Organizations) là từ dùng để chỉ chung cho các tổ chức đứng ngoài chính phủ, hoạt động tự nguyện, phi lợi nhuận, song song và bổ trợ cho các chương trình kinh tế, xã hội của nhà nước.

* Một số nước coi tất cả các tổ chức không phải của chính phủ là các NGOs;

* Theo luật pháp một số nước, các tổ chức NGOs bao gồm các chủ thể có tư cách pháp nhân, là những tổ chức không thuộc chính phủ như các Viện, các tổ chức tư nhân hay công cộng hoặc các Quỹ... Các NGOs đó là những tổ chức phi lợi nhuận, được lập ra hợp pháp và có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước đó và theo pháp luật của nước cho đặt trụ sở chính.

* Theo định nghĩa của Liên hợp quốc, các NGOs là bất kỳ tổ chức quốc tế nào được lập ra không phải do một thoả thuận liên chính phủ quốc tế, nhưng NGOs đó có thể bao gồm các tổ chức có thành viên do chính phủ cử ra, với điều kiện thành viên đó không được can thiệp vào quyền tự do bày tỏ ý kiến của tổ chức đó.

Có thể rút ra đặc điểm chung của loại hình tổ chức này là được thành lập một cách tự nguyện và hợp pháp, không thuộc bộ mày hành chính Nhà nước và không nhằm mục đích lợi nhuận.

2. Ba loại NGOs hiện đang hoạt động trên thế giới:

+ Tổ chức phi chính phủ mang tính chất quốc gia;

+ Tổ chức phi chính phủ mang tính chất quốc tế;

+ Tổ chức phi chính phủ mang tính chất chính phủ;

Các tổ chức phi chính phủ mang tính chất quốc gia (National Non-Governmental Organizations, gọi tắt là NNGOs) là tổ chức mà các thành viên đều mang một quốc tịch. Các tổ chức này xuất hiện trên thế giới rất sớm. Phạm vi hoạt động chủ yếu phục vụ cho từng cộng đồng, hoạt động trong phạm vi một nước. Về số lượng, NNGOs chiếm đa số tuyệt đối.

Các tổ chức phi chính phủ mang tính chất quốc tế (International Non-Governmental Organizations, gọi tắt là INGOs) là tổ chức mà các thành viên của nó mang nhiều quốc tịch khác nhau sáng lập ra. Về số lượng, INGOs ít hơn nhiều so với NNGOs. Phạm vi hoạt động của INGOs rộng khắp trên thế giới, nhưng INGOs phải tuân theo luật pháp của nước nhận sự hợp tác.

Các tổ chức phi chính phủ mang tính chất chính phủ (Governmental Non-Governmental Organizations, gọi tắt là GNGOs) là các tổ chức do chính phủ lập ra hoặc một NGO nào đó hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách của chính phủ. Ví dụ: Chương trình phát triển DED của Đức; SNV của Hà Lan đang có chương trình viện  trợ cho Việt Nam.

3. Viện trợ NGOs được thể hiện dưới ba hình thức chủ yếu là viện trợ thông qua các chương trình, dự án (viện trợ để thực hiện các chương trình/dự án), viện trợ phi dự án (viện trợ bằng tiền, hiện vật hoặc chuyên gia, tình nguyện viên) và viện trợ khẩn cấp trong trường hợp có thiên tai hoặc tai họa khác. Khác với nguồn viện trợ chính thức (ODA), viện trợ NGOs là loại viện trợ không hoàn lại, mang tính nhân đạo và phát triển, có thủ tục nhanh gọn và đơn giản. Quy mô dự án thường không lớn (từ vài nghìn đến vài trăm nghìn đô la Mỹ, thời gian thực hiện không dài (từ vài tháng đến 1-2 năm) nhưng thường đáp ứng kịp thời, sát với nhu cầu và phù hợp với khả năng quản lý, sử dụng của nơi nhận viện trợ. Hiện nay, nhiều nước phát triển đã dành một phần viện trợ ODA cho các nước đang phát triển thông qua NGOs. Số tiền viện trợ thông qua NGOs khá lớn, ngày một tăng và trên thực tế đã hỗ trợ đáng kể cho các chương trình kinh tế-xã hội của các nước đang phát triển. NGOs còn nhận sự hỗ trợ tài chính từ các tổ chức tôn giáo, từ các quỹ từ thiện tư nhân, từ quyên góp với nhiều hình thức khác nhau.

4. Khối lượng viện trợ của NGOs cho các nước đang phát triển ngày càng tăng cùng với sự gia tăng về  lĩnh vực hợp tác của các tổ chức này. Hoạt động của NGOs đã chuyển theo hướng giảm viện trợ nhân đạo và tăng viện trợ phát triển bền vững. Các NGOs ngày càng đóng vai trò đáng kể trong đời sống kinh tế-xã hội, giáo dục, y tế, môi trường, nhân đạo ... tại nhiều nước trên thế giới. Các NGOs đang tham gia sâu vào nhiều lĩnh vực như xoá đói giảm nghèo, giúp đỡ phụ nữ, cứu trợ trẻ em, kế hoạch hoá gia đình, chữ thập đỏ, bảo vệ môi trường...

5. Tiếng nói của NGOs đối với các vấn đề thuộc mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế ngày càng được các nước và các tổ chức quốc tế lớn như Liên hợp quốc (LHQ), Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) và đặc biệt các tổ chức ngân hàng, tài chính thế giới như World Bank (WB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) quan tâm. Tính đến năm 2006 đã có gần 2,870 tổ chức NGOs có quy chế tham khảo ý kiến với Hội đồng Kinh tế-Xã hội-ECOSOC của LHQ  (năm 1946 chỉ có 41 tổ chức được Hội đồng cho hưởng quy chế; năm 1993 có 978; năm 1997 có 1,356). Theo quy định, số NGOs này được phát biểu, tham gia thảo luận tại các cuộc họp của ECOSOC và đưa ra những đề mục quan tâm vào chương trình nghị sự của cơ chế này hoặc các tiểu ban trực thuộc Hội đồng. Năm 1986, UNDP thành lập riêng một vụ chuyên theo dõi và phối hợp hoạt động với các NGOs. WB hàng năm đều tổ chức các Hội nghị tư vấn với NGOs. Sự tham gia của các tổ chức NGOs trên các diễn đàn khác về kinh tế, xã hội và phát triển ngày một tăng, đồng thời tổ chức những diễn đàn riêng của mình song song với những Hội nghị quốc tế. Với tiếng nói của mình, NGOs đã đóng góp đáng kể vào sự thành công của nhiều hội nghị quốc tế lớn trong những năm qua như Hội nghị Thế giới về Phụ nữ, Hội nghị Thế giới về Dân số và Phát triển, Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển xã hội, Hội nghị Thế giới về Môi trường...

II. QUAN HỆ VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ

  1. 1.Hoạt động của các tổ chức PCPNN: đã được tiến hành ở nước ta từ đầu những năm 1950. Lúc đầu chỉ có một vài tổ chức vào với mục đích tiến hành các hoạt động viện trợ nhân đạo thuần túy, nhưng theo chiều hướng chung trên thế giới, số lượng các tổ chức PCPNN vào Việt Nam tăng dần từ sau năm 1975 và nội dung viện trợ cũng thay đổi theo hướng giảm viện trợ nhân đạo và tăng viện trợ phát triển. Tuy nhiên, lĩnh vực thực hiện bao trùm ở nước ta là nhân đạo và phát triển. Chương trình viện trợ của các tổ chức PCPNN được triển khai ở 61 tỉnh thành với giá trị viện trợ ngày càng tăng và là nguồn bổ sung đáng kể cho ngân sách của nhà nước ta.
  2. 2.Tổ chức và phương thức hoạt động: Tổ chức PCPNN tại Việt Nam có hình thức lập văn phòng đại diện (VPĐD), Văn phòng dự án (VPDA) hoặc không có văn phòng mà chỉ hoạt động theo Giấy đăng ký hoạt động. Có xu hướng gia tăng là tổ chức PCPNN tài trợ thông qua các tổ chức chính phủ Việt Nam (Trung tâm, viện, đơn vị khoa học, công nghệ, hội …). Đại đa số viện trợ thông qua quan hệ đối tác với các cơ quan chính quyền và tổ chức quần chúng ở các cấp.
  3. 3.Hình thức viện trợ: chủ yếu thông qua các chương trình, dự án nhân đạo và phát triển. Viện trợ phi dự án và cứu trợ khẩn cấp chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Lĩnh vực chủ yếu là y tế (phát triển hạ tầng cơ sở, cấp trang thiết bị, đào tạo cán bộ, truyền thông, dinh dưỡng…), giáo dục (xây dựng cơ sở, đào tạo giáo viên, học bổng trong và ngoài nước, giáo viên tình nguyện, đào tạo dạy nghề…), phát triển kinh tế (nông nghiệp và phát triển nông thôn tổng hợp, hạ tầng nông thôn, tín dụng quay vòng), xã hội (giải quyết các vấn đề xã hội, tệ nạn xã hội, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, người khuyết tật, trẻ mồ côi…), môi trường và viện trợ khẩn cấp.
  4. 4.Quan hệ Việt Nam với các tổ chức PCPNN: có thể chia làm 04 giai đoạn chính (các giai đoạn này có thể gắn liền với những giai đoạn lịch sử cụ thể và liên quan tới quá trình mở rộng quan hệ quốc tế của Việt Nam) như sau:
  5. a.Giai đoạn 1970 – 1975: Đầu những năm 70, có khoảng 63 tổ chức PCPNN họat động tại Việt Nam. Tuy nhiên có tổ chức cho biết đã hoạt động tại Việt Nam từ năm 1948, trong khi đó các tổ chức khác đến Việt Nam sau cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1954. Hầu hết các tổ chức PCPNN tại Việt Nam là các tổ chức có liên quan đến tôn giáo (Cơ đốc giáo).
  6. b.Giai đoạn 1975 – 1979: Một số tổ chức PCPNN chuyển văn phòng của họ sang Thái Lan và Lào để tiếp tục viện trợ nhân đạo và cứu trợ cho Việt Nam. Thực tế tất cả các nhà tài trợ phương Tây trừ Thụy Điển đã ủng hộ chính sách cấm vận do Mỹ áp đặt từ năm 1970. Do vậy, thời kỳ này, số lượng viện trợ của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam đã giảm đáng kể (trung bình 15 triệu USD/năm). Tuy nhiên, một số tổ chức đã chuyển hướng hoạt động bằng chiến lược khác nhau nhằm gây quỹ và cung cấp cứu trợ nhân đạo trong lúc ta thiếu lương thực nghiêm trọng. Năm 1979, Bộ Tài chính lập ra Ban tiếp nhận viện trợ để tạo thuận lợi cho việc tiếp nhận viện trợ từ các tổ chức nước ngoài, bao gồm các tổ chức PCPNN.
  7. c.Giai đoạn 1980 – 1986: Sự giúp đỡ của tổ chức PCPNN tập trung vào cứu trợ nhân đạo. Chính sách cấm vận của Mỹ đã hạn chế cơ hội cho các tổ chức PCPNN tăng cường viện trợ cho Việt Nam. So với nhu cầu thì sự giúp đỡ của các tổ chức PCPNN cho Việt Nam còn thấp, nhưng tình đoàn kết được thể hiện là rất quan trọng. Cuối năm 1986, ĐCSVN đưa ra chính sách đổi mới, tạo cơ hội mới cho các tổ chức PCPNN giúp Việt Nam và nhiều tổ chức đã nỗ lực cử đại diện của mình vào Việt Nam.
  8. d.Giai đoạn 1986 đến nay: Vào năm 1989, những ảnh hưởng của chính sách đổi mới đã có tác dụng, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Tháng 10/1988, tổ chức CIDSE trở thành tổ chức PCPNN đầu tiên của giai đoạn này có VPĐD tại Việt Nam.

Trong giai đoạn này, tính chất viện trợ chuyển từ viện trợ nhân đạo sang các dự án, chương trình hỗ trợ phát triển. Số lượng NGO có quan hệ với ta và giá trị viện trợ tăng dần, từ 70-100 NGO với tổng giá trị viện trợ khoảng 20-30 triệu USD/năm trong giai đoạn 1986-1992, đến năm 2000 ta có quan hệ với khoảng 480 tổ chức PCPNN và đến cuối năm 2011, ta đã có trên 900 tổ chức từ các khu vực Tây Âu Bắc Mỹ, Châu Á - TBD, trong đó hơn 700 tổ chức đã được cấp giấy phép các loại vì có dự án và quan hệ đối tác với Việt Nam. Theo báo cáo của Ủy ban công tác về các tổ chức PCPNN từ năm 1989 đến tháng 6/2010, ta đã vận động trên 2,3 tỷ USD viện trợ PCPNN cho Việt Nam.

Hiện nay, Việt Nam có quan hệ với trên 1.000 tổ chức PCPNN, trong đó có khoảng 500 tổ chức đang hoạt động thường xuyên. Hằng năm các tổ chức PCPNN hỗ trợ khoảng 3.000 chương trình, dự án và khoản viện trợ với giá trị viện trợ giải ngân trong hơn 20 năm ước đạt trên 4,3 tỷ đô la Mỹ. Các hoạt động viện trợ giữa các đối tác Việt Nam giữa các đối tác Việt Nam với tổ chức PCPNN được triển khai trên 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và ở hầu hết các bộ, ban, ngành trung ương, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Hình thức viện trợ chủ yếu thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển và viện trợ nhân đạo; một số khác viện trợ phi dự án.

III. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH QUẢNG NAM

Trong những năm qua, tỉnh Quảng Nam đã không ngừng nỗ lực hợp tác và vận động viện trợ của các tổ chức quốc tế, tổ chức PCPNN, doanh nghiệp nước ngoài nhằm tăng cường, huy động nguồn lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Kết quả trong giai đoạn 2014 - 2018, đã có khoảng 100 tổ chức PCPNN đến hoạt động viện trợ trên địa bàn tỉnh với tổng giá trị viện trợ đạt gần 42,5 triệu USD, tương đương khoảng 1.000 tỷ VNĐ thông qua 530 chương trình, dự án và phi dự án, cụ thể như sau:

Năm

Số lượng CT/DA/PDA

Tổng giá trị viện trợ (USD)

2014

88

8,593,300

2015

90

7,190,657

2016

101

9,526,242

2017

125

10,685,592

2018

126

6,496,310

Tổng cộng

530

42,492,101

 

 

1.000 tỷ VNĐ

Ngoài các khoản viện trợ thông qua các chương trình, dự án đầu tư và hỗ trợ kỹ thuật, hằng năm tỉnh Quảng Nam đã tiếp nhận nhiều khoản viện trợ phi dự án là các chương trình tình nguyện viên, hỗ trợ của các chuyên gia thuộc các tổ chức PCPNN đến hoạt động nhân đạo tại các cơ quan, trường học, cơ sở bảo trợ xã hội như khám chữa bệnh cộng đồng, hỗ trợ tăng cường kỹ năng sử dụng ngoại ngữ cho học sinh, chăm sóc và hỗ trợ điều trị vật lý trị liệu cho trẻ khuyết tật …, các khoản viện trợ thông qua chương trình quà tặng, viện trợ hàng hóa (áo quần, giày dép, đồ dùng học sinh, xe lăn cho người khuyết tật), thiết bị, vật tư y tế.

Giá trị viện trợ của các tổ chức PCPNN tại Quảng Nam trong thời gian qua được phân bố theo cơ cấu như sau:

- Cơ cấu viện trợ theo nguồn khu vực: Bắc Mỹ: 50%, Châu Âu: 26%, Châu Á - Thái Bình Dương: 24%;

- Cơ cấu viện trợ theo lĩnh vực: Phát triển KT-XH (36,7%), y tế (10,8%); giáo dục và đào tạo (17,8%), giải quyết các vấn đề xã hội (24,0%), bảo vệ tài nguyên và môi trường (4,9%), các lĩnh vực khác (6,8%);

- Cơ cấu viện trợ theo địa lý: Vùng đồng bằng ven biển (09 huyện/thành phố): 32%; vùng trung du, miền núi (09 huyện): 68%;

- Cơ cấu viện trợ theo tính chất đối tác: chính quyền địa phương: 46%, hội đoàn thể: 31%, TCPCP trong nước: 5%, TCPCPNN trực tiếp: 18%.

Đa số các chương trình/dự án của các tổ chức PCPNN thường có quy mô vừa và nhỏ, phù hợp với nhu cầu và khả năng tiếp cận của địa phương, ngân sách dự án được giải ngân đúng tiến độ và đạt mục tiêu, kết quả dự kiến. Một số chương trình, dự án chưa giải ngân đúng tiến độ do các nguyên nhân khách quan như thời tiết không thuận lợi hoặc người dân hưởng lợi dự án chưa tích cực phối hợp triển khai hoạt động của dự án, ... đều được gia hạn thời gian triển khai dự án để giải ngân 100%. Các cơ quan đối tác của tỉnh chủ động trong việc bố trí vốn đối ứng cũng như xin phép cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kinh phí đối ứng để đảm bảo phối hợp triển khai dự án đạt kết quả. Nhìn chung, nguồn vốn viện trợ từ các tổ chức PCPNN đã đóng góp tích cực trong sự nghiệp phát triển KT-XH của tỉnh, đáp ứng nhanh và đúng với yêu cầu thiết thực của địa phương; phù hợp với quy hoạch và ưu tiên phát triển KT-XH của tỉnh.

Hình ảnh hoạt độngbadge